Bài viết là tổng hợp bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên tiểu học giành cho giáo viên. Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên là một trong nhiều mô hình giành cho các cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông nhằm phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên và được xem là mô hình có ưu thế giúp số đông giáo viên được tiếp cận với các chương trình phát triển nghề nghiệp. Thông qua việc trả lời những câu hỏi trong bài thu hoạch sẽ giúp mỗi giáo viên được tiếp cận với chương trình bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu bản thân, góp phần định hướng phát triển giáo dục và mục tiêu xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên Việt Nam.

Dưới đây, chúng tôi xin gửi đến bạn mẫu bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên tiểu học chi tiết, đầy đủ và được đánh giá cao về chất lượng của chúng.

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên tiểu học

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Tiểu học chia ra thành 45 Module, mỗi Module là một chủ đề khác nhau liên quan tới vấn đề tâm lý, dạy học, cũng như môi trường học của học sinh Tiểu học. Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu hai phần quan trọng của bài thu hoạch đó là lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục tiểu học (module 12) và một số phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học.

Module 12: Lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở tiểu học

Câu hỏi 1: Nêu các hình thức và mức độ tích hợp các nội dung giáo dục ở tiểu học theo từng môn học?
Trả lời:

Có nhiều hình thức tích hợp chương trình khác nhau. Tích hợp nội dung là hình thức nối kết nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau. Có thể chia ra làm 3 hình thức (mức độ) như sau:

Kết hợp lồng ghép: Đây là mức đầu tiên của tích hợp; theo đó, những nội dung nào đó sẽ được kết hợp vào chương trình môn học đọc lập có sẵn.

Đa môn: Các môn học là riêng rẽ, nhưng có những chủ đề/vấn đề được tích hợp vào các môn.

Liên môn: Chương trình tạo ra các chủ đề/vấn đề chung nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được chú trọng giữa các môn mà không phải là từng môn riêng biệt.

Chương trình giáo dục tiểu học hiện nay quán triệt khá rõ nét quan điểm tích hợp. Dưới đây là 1 số biểu hiện cụ thể trong chương trình 1 số môn học:

– Môn Tiếng Việt: Chương trình Tiếng Việt hiện nay xây dựng theo quan điểm tích hợp:

Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp theo nguyên tắc đồng quy giữa các phân môn với nhau, giữa kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức khác; giữa các kĩ năng (nghe-nói-đọc-viết); giữa kiến thức-kĩ năng-thái độ. Hướng tích hợp này được thực hiện thông qua hệ thống Chủ điểm học tập. Các phân môn được tập hợp lại quanh 1 chủ điểm, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng được gắn bó chặt chẽ với nhau.

Tích hợp theo chiều dọc: Là tích hợp ở 1 đơn vị kiến thức-kĩ năng theo nguyên tắc đồng tâm. Kiến thức lớp trên bao gầm kiến thức lớp dưới nhưng được mở rộng hơn. Đây là giải pháp nâng dần kiến thức gấp phần hình thành phẩm chất mới của nhân cách.

– TNXH, Khoa học, Lịch sử và Địa lý: Đây là những môn học về thiên nhiên, con người và xã hội gần gũi xung quanh học sinh nên có nhiều cơ hội để tích hợp những vấn đề của thời đại.

– Mĩ thuật, Âm nhạc, Thủ công: Việc tích hợp 3 môn học này thành 1 môn Nghệ thuật có thể thực hiện được. Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện sẽ gặp khó khăn vì 1 giáo viên khó có thể dạy được cả 3 môn trên.

Để xem đầy đủ nội dung, mời bạn click vào đây: Thủ tục đăng ký nhãn hiệu

Câu hỏi 2: Nêu các phương pháp kĩ thuật dạy học phù hợp với việc dạy tích hợp trong từng môn học?

1. Kỹ thuật đặt câu hỏi:

Trong dạy học hệ thống câu hỏi của giáo viên có vai trò quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh. Thay cho việc thuyết trình, đọc, chép, nhồi nhét kiến thức, giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi để học sinh suy nghĩ phát hiện kiến thức, phát triển nội dung bài học, đồng thời khuyến khích học sinh động não tham gia thảo luận xung quanh những ý tưởng/ nội dung trọng tâm của bài học theo trật tự logic. Hệ thống câu hỏi còn nhằm định hướng, dẫn dắt cho học sinh từng bước phát hiện ra bản chất sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực, tìm tòi, sự ham hiểu biết. GV có kỹ năng đặt câu hỏi tốt thì HS học tập tích cực hơn, việc giảng dạy dễ thành công hơn. Trong quá trình đàm thoại, giáo viên là người tổ chức, học sinh chủ động tìm tòi, sáng tạo, phát hiện kiến thức mới. Đồng thời qua đó học sinh có được niềm vui hứng thú của người khám phá và tự tin khi thấy trong kết luận của thầy (cô) có phần đóng góp ý kiến của mình.

2. Kĩ thuật khăn trải bàn

Là cách thức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm tăng hiệu quả học tập

3. Phương pháp đóng vai

– Học sinh dần dần quen với vai trò và nhiệm vụ khác nhau như vai trò trưởng nhóm, hướng dẫn và điều khiển trong nhóm, vai trò nhóm viên (thực hiện một công việc cụ thể).

– Giáo viên có thể hỗ trợ cho các đối tượng học sinh theo nhu cầu khác nhau.

– Học sinh được làm việc trong nhóm nhỏ sẽ dần dần tự tin hơn.

4. Phương pháp động não

Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận.

5. Phương pháp vấn đáp

Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.

6. Nhóm và hoạt động nhóm

– Hoạt động nhóm giúp học sinh tích cực và tham gia nhiều hơn.

– Các kỹ năng giao tiếp về mặt xã hội và một số các kỹ năng sống cơ bản khác được phát triển.

– Học sinh có thể diễn đạt bằng lời và chia sẻ các ý tưởng của mình với những người khác trong việc phát triển các kĩ năng ngôn ngữ.

– Học sinh có thể hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau.

– Học sinh dần dần quen với vai trò và nhiệm vụ khác nhau như vai trò trưởng nhóm, hướng dẫn và điều khiển trong nhóm, vai trò nhóm viên (thực hiện một công việc cụ thể).

– Giáo viên có thể hỗ trợ cho các đối tượng học sinh theo nhu cầu khác nhau.

– Học sinh được làm việc trong nhóm nhỏ sẽ dần dần tự tin hơn.

7. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo.

Câu hỏi 3: Lập kế hoạch bài học tích hợp một số nội dung giáo dục theo yêu cầu nhiệm vụ năm học?

Bài 11. GIA ĐÌNH

I- Mục tiêu

Kiến thức:

– Kể được các công việc thường ngày của từng người trong gia đình.

– Biết được các thành viên trong gia đình cần cùng nhau chia sẻ công việc nhà.

Kĩ năng:

– Có ý thức giúp đỡ bố, mẹ làm việc nhà tuỳ theo sức của mình.

– Rèn kỹ năng nói, viết thành câu, đủ ý, liên kết đoạn văn (Tích hợp TV).

Thái độ:
– Yêu quý và kính trọng những người thân trong gia đình.

– Làm việc nhà phù hợp với khả năng của mình.

II- Đồ dùng

– Hình vẽ trong SGK trang 24, 25 – VBT

III- Các hoạt động dạy- học

Hoạt động của GV Hoạt động của HS Tích hợp

A- Kiểm tra bài cũ

– Làm thế nào để phòng bệnh giun?

– Nhận xét, đánh giá

B- Bài mới

1- Giới thiệu bài: Khởi động

– Cho cả lớp hát bài Ba ngọn nến

(Cả nhà thương nhau).

+ Bài hát có ý nghĩa gì ? Nói về những ai ?

– Giới thiệu bài học

2- Thực hành

Hoạt động 1: Làm việc với SGK theo nhóm nhỏ

MT: Nhận biết những người trong gia đình bạn Mai và việc làm của từng người.

Bước 1: Làm việc theo nhóm nhỏ

– Hướng dẫn HS quan sát H 1, 2, 3, 4, 5 trong SGK và tập đặt câu hỏi.

VD :

+ Đố bạn, gia đình của bạn Mai có những ai ?

+ Ông bạn Mai đang làm gì ? (H1)

+ Ai đang đi đón em bé ở trường mầm non ? (H2)

+ Bố của Mai đang làm gì ? (H4)

+ Hình nào mô tả cảnh nghỉ ngơi trong gia đình Mai ? (H5)

– Ghi nhanh ý kiến HS nêu lên bảng

– Chốt lại toàn bộ các ý kiến vừa nêu.

Bước 2: Làm việc cả lớp

* Kết luận (GV giảng không yêu cầu HS ghi nhớ)

– Gia đình Mai gồm : Ông, bà, bố, mẹ và em trai của Mai.

– Các bức tranh cho thấy mọi người trong gia đình Mai ai cũng tham gia làm việc nhà tuỳ theo sức và khả năng của mình.

– Mọi người trong gia đình đều phải thương yêu, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau và phải làm tốt nhiệm vụ của mình.

Hoạt động 2: Nói về công việc thường ngày của những người trong gia đình mình

MT: Chia sẻ với các bạn trong lớp về người thân và việc làm của từng người trong gia đình của mình.

Bước 1: Yêu cầu từng em nhớ lại những việc làm thường ngày trong gia đình của mình

Bước 2: Trao đổi trong nhóm

Kể về công việc ở nhà mình và ai thường làm các công việc đó.

Bước 3 : Trao đổi với cả lớp

– Gọi 1 số HS chia sẻ với cả lớp

– Ghi tất cả các công việc mà các em đã kể vào bảng gợi ý sau :

+ Điều gì sẽ xảy ra nếu bố, mẹ hoặc những người khác trong gia đình không làm tròn trách nhiệm của mình ?

– Vậy trong gia đình, mỗi thành viên đều có những việc làm, bổn phận riêng của mình. Trách nhiệm của mỗi thành viên là góp phần xây dựng gia đình vui vẻ, thuận hoà.

+ Vào những lúc nhàn rỗi, em và các thành viên trong gia đình thường có những hoạt động giải trí gì ?

+ Vào những dịp lễ, tết… em thường được bố, mẹ đưa đi chơi những đâu ?

* Kết luận :

– Mỗi người đều có một gia đình

– Tham gia công việc gia đình là bổn phận và trách nhiệm của từng người trong gia đình.

– Mỗi người trong gia đình đều phải thương yêu, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau và phải làm tốt nhiệm vụ của mình góp phần xây dựng gia đình vui vẻ, hạnh phúc.

– Sau những ngày làm việc vất vả, mỗi gia đình nên có kế hoạch nghỉ ngơi như : họp mặt vui vẻ, thăm người thân, du lịch,…

* Yêu cầu: Viết từ 3 đến 5 câu kể về gia đình em.

– Trình bày đoạn văn.

3- Củng cố dặn dò

+ Là một người con trong gia đình em phải làm gì để gia đình hạnh phúc?

– Nhận xét giờ học

– VN chuẩn bị bài sau.

– 1 HS trả lời

– Cả lớp hát

+ Nói về bố, mẹ, con cái và ca ngợi tình cảm gia đình.

– Quan sát làm việc trong nhóm theo gợi ý của GV

– Đại diện các nhóm lên trình bày kết quả quan sát và phân tích tranh. Các nhóm khác bổ sung.

– Từng nhóm trao đổi, từng HS kể với các bạn

– Đại diện 1 số nhóm phát biểu ý kiến, lớp nhận xét

+ Trả lời

– 1 số HS nói

+ Thì lúc đó sẽ không gọi là gia đình nữa.

+ Đọc báo, xem ti vi,…

+ Trả lời

– HS viết vở nháp.

– 3 -> 5 em.

+ Học tập thật giỏi, biết nghe lời ông bà, cha mẹ, tham gia công việc gia đình tuỳ theo sức của mình.

Rèn kỹ năng nói thành câu, đủ ý.

– Rèn kỹ năng nói thành câu, kỹ năng liên kết câu thành đoạn văn.

TH15: Một số phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học

Câu hỏi 1: Kể tên các phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học? Đồng chí đã áp dụng những phương pháp dạy học tích cực nào trong môn học của mình và hiệu quả của phương pháp đó đối với môn học?
Trả lời:

Các phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học:

– Phương pháp vấn đáp

– Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

– Phương pháp hợp tác theo nhóm nhỏ

– Phương pháp động não

– Phương pháp trò chơi

– Phương pháp đóng vai

Không có phương pháp nào là vạn năng vì vậy ta phải biết kết hợp nhiều phương pháp, các quá trình và hình thức hoạt động trong giờ học. Chú trọng dạy học qua tình huống, học bằng các hoạt động, học qua trải nghiệm, học theo dự án…Vì vậy cần sử dụng các phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp kiến tạo, phương pháp dự án; phương pháp sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin cần được vận dụng trong tất cả các môn học một cách linh hoạt.

Để thực hiện dạy học tích hợp đạt hiệu quả thì phương pháp dạy họcphù hợp nhất đó là dạy học dựa trên sự khám phá, tìm tòi. Vận dụng phương pháp dạy học này sẽ phát triển ở học sinh năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo; rèn các kĩ năng hợp tác, giao tiếp.

Bên cạnh đó phương pháp dạy học dự án cũng khá phù hợp với dạy học tích hợp. phương pháp này giúp học sinh hoạt động độc lập chủ đông, sáng tạo thông qua các bước thực hiện dự án như: Lập kế hoạch, nghiên cứu, thực hiện dự án, tổng hợp (thu thập, xử lí số liệu). Phương pháp dự án còn có ưu điểm làm nội dung tích hợp có tính thiết thực và có ý nghĩa đối với học sinh. Giáo viên có thể dạy và học sinh có thể học nếu được tập huấn về quy định thời lượng; không phải xây dựng môn học mới; học sinh phát triển được năng lực liên môn, giải quyết vấn đề…tạo được hứng thú trong học tập.

Cùng việc lựa chọn phương pháp dạy học phải thực hiện phương pháp và kĩ thuật đánh giá đa dạng như: trắc nghiệm khách quan, tự luận, bài kiểm tra viết, bảng quan sát, báo cáo, sự hoàn thành các bài kiểm tra, các cuộc phỏng vấn, hồ sơ. Đánh giá học sinh phải toàn diện trên mọi mặt KT-KN-TĐ sự nhận biết giá trị, tham gia hợp tác…Đồng thời sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi, lắng nghe, phản hồi tích cực; tổ chức trò chơi học tập; học tập hợp tác.

Câu hỏi 2: Trình bày bản chất, quy trình, điều kiện thực hiện dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm nhỏ?
Trả lời:

Phương pháp hợp tác theo nhóm nhỏ hay còn được gọi là phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp hợp tác nhóm.

Bản chất của phương pháp hợp tác nhóm nhỏ là tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm nhỏ để những nhóm nhỏ của học sinh cùng thực hiện 1 nhiệm vụ nhất định, trong khoảng thời gian nhất định.
Có 5 yếu tố hợp tác nhóm:

– Phụ thuộc lẫn nhau.

– Trách nhiệm cá nhân.

– Khuyến khích tương tác.

– Rèn luyện kĩ năng xã hội.

– Rèn kĩ năng đánh giá.

Quy trình thực hiện phương pháp hợp tác theo nhóm nhỏ:

Bước 1: Chọn nội dung và nhiệm vụ phù hợp

Bước 2: Thiết kế kế hoạch bài học theo phương pháp nhóm

Bước 3: Tổ chức dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm

Điều kiện:

– Phòng học đủ rộng.

– Bàn ghế dễ di chuyển.

– Nhiệm vụ đủ khó.

– Thời gian đủ.

– Học sinh cần được bồi dưỡng đầy đủ các kĩ năng.

Câu hỏi 3: Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN đã phát huy hiệu quả dạy học hợp tác nhóm nhỏ như thế nào? Lấy ví dụ minh họa?

Trả lời:

Phương pháp dạy và học theo mô hình VNEN: Là hình thức dạy học đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành nhóm một cách thích hợp. Học hợp tác nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác. Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm việc với nhau những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một thời gian nhất định. Đối với cấp Tiểu học, việc rèn cho các em các kỹ năng học hợp tác nhóm là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh.

Dạy học theo nhóm là mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục nước ta. Các phòng học dạy theo mô hình VNEN được bố trí giống như phòng học bộ môn, thư viện linh động với đồ dùng dạy và học sẵn có để HS tham khảo; góc đồ dùng học tập, góc cộng đồng, góc trưng bày sản phẩm…

Mô hình VNEN thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh. Chuyển việc truyền thụ của giáo viên thành việc hướng dẫn học sinh tự học. Lớp học do học sinh tự quản và được tổ chức theo các hình thức, như: làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu.

Trên đây là bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên tiểu học được chúng tôi chọn lọc kĩ lưỡng với mong muốn cung cấp thêm những thông tin hay, bổ ích về lập kế hoạch dạy học tích hợp và định hướng phương pháp dạy học tích hợp ở tiểu học. Để có thêm kinh nghiệm viết bài, bạn có thể tham khảo, lấy ý tưởng trong bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên mầm non trên trang web vngg.net. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ hoàn thiện bài thu hoạch tốt nhất, hoàn thiện nhất, được đánh giá cao về chất lượng và đưa lớp học của mình ngày càng nâng cao về trình độ, góp phần đưa nền giáo dục lên một tầm cao mới.

0/5 (0 Reviews)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *